Du lịch đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế

Du lịch đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập kinh tế Quốc tế

Trần Thị Phương Huỳnh

Nghiên cứu viên, Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị khu vực IV

TÓM TẮT

 Đồng bằng sông Cửu Long đã được xác định là một trong 7 vùng du lịch đặc trưng của cả nước, theo Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến ngành du lịch cả nước nói chung và ngành du lịch vùng ĐBSCL nói riêng. Hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho ngành du lịch ĐBSCL những thuận lợi rất lớn nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức. Điều đó đòi hỏi sự nổ lực cao của Nhà nước, ngành du lịch và của nhân dân toàn vùng với những giải pháp thiết thực để đưa ngành du lịch của vùng ngày càng phát triển, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới hiện nay.

 SUMMARY

 

TOURISM MEKONG DELTA
IN THE CONTEXT OF INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION


Mekong Delta has been identified as one of seven typical tourist areasof the country, according to the strategy and master plan for tourism development in Vietnam until 2020 with a vision to 2030. However,in the context globalizationand international economic integration has significantly affected the country's tourismsector in general and the tourism industry in the Mekong Delta in particular. International economic integration has brought to the tourism industry MD great advantagesbut also facea lot of challenges. It requires higheffort of the State, the tourism industry andthe people of the region to bring practical solutions to the region's tourism industry is growing, contributing greatly to the cause of national construction new in the currentperiod.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. ĐBSCL nằm giữa khu vực kinh tế năng động và phát triển, liền kề với TP. Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích gần 40 nghìn km2, dân số khoảng 18 triệu người, có hơn 340 km đường biên giới trên bộ giáp Campuchia, là khu vực duy nhất của cả nước tiếp giáp Biển Đông và Biển Tây với bờ biển dài 750 km, chiếm 23% chiều dài bờ biển quốc gia; hơn 360 ngàn km2 vùng biển và đặc quyền kinh tế, có gần 200 đảo và quần đảo, đặc biệt là đảo Phú Quốc lớn nhất Việt Nam; gần tuyến hàng hải Đông - Tây, là luồng hàng hải quốc tế sôi động nhất, hiện diện nhiều nền kinh tế lớn của thế giới.

Khác với phía Bắc, miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long có thể kinh doanh du lịch suốt 12 tháng trong năm, tránh được yếu tố mùa vụ nhờ thiên nhiên ưu đãi, khí hậu ôn hòa. ĐBSCL không thiếu những nơi có thể tạo ra “lợi thế so sánh” riêng biệt. Tiềm năng và sức hấp dẫn của du lịch ĐBSCL là không thể phủ nhận.

  1. Thành tựu:

Trong năm 2010 toàn vùng thu hút hơn 19 triệu lượt khách; trong đó có 1,46 triệu lượt khách quốc tế[1].

Trong năm 2012, ngành du lịch Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã đón gần 20 triệu lượt du khách, trong đó có hơn 1,6 triệu khách quốc tế. Doanh thu du lịch đạt 4.344 tỷ đồng, tăng 23,2% so với năm 2011. Ngoài ra, các địa phương như Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu đã lựa chọn một số sản phẩm du lịch tiêu biểu liên kết tạo nên một tour du lịch đặc thù nhằm tránh sự trùng lặp về sản phẩm. Bước đầu tour du lịch này đã được du khách đánh giá cao. Về cơ sở vật chất, các điểm du lịch tiếp tục được đầu tư nâng cấp, mở rộng đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ vui chơi giải trí của du khách. Đáng kể nhất toàn huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) hiện có gần 100 cơ sở lưu trú (với khoảng 2.000 phòng), tăng gấp 3 lần so với năm 2005 và có khả năng tiếp nhận khoảng 2.500 khách lưu trú mỗi ngày. Trong đó, có 16 khách sạn và khu resort đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 4 sao. Năm 2012, Phú Quốc đã đón trên 450.000 lượt khách du lịch (tăng 3,4 lần so với năm 2005), trong đó có 132.000 lượt khách quốc tế (tăng 5 lần)[2].

Đến năm 2013, toàn vùng đón được 1.668.800 lượt khách du lịch quốc tế, chiếm 8,3% tổng lượng khách quốc tế cả nước; 9,8 triệu lượt khách nội địa, chiếm 5,8% tổng lượt khách nội địa cả nước; tổng thu nhập từ du lịch của vùng đạt 5.141 tỷ đồng, chiếm 2,7% tổng thu nhập du lịch của cả nước[3].

Gần đây, năm tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu đã liên kết hợp tác với nhau, xây dựng sản phẩm du lịch trong chương trình giới thiệu điểm đến chung với các sản phẩm du lịch đặc trưng cho từng địa phương. Đây là một nỗ lực lớn của các địa phương và doanh nghiệp nhằm thu hút khách du lịch đến đồng bằng sông Cửu Long, để khắc phục lượng khách du lịch đang sụt giảm. Bên cạnh đó, các địa phương trong vùng đã chú ý phát huy tiềm năng, thế mạnh, liên kết chặt chẽ với thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong việc khai thác, phát huy lợi thế vị trí địa lý vùng sông nước, phát triển ngày càng đa dạng và phong phú các loại hình du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn; đầu tư tạo ra nhiều điểm du lịch mới. Các điểm du lịch tại Đất mũi Cà Mau, du lịch biển ở Kiên Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu, Tiền Giang, Bến Tre, du lịch sinh thái ở Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang; du lịch di tích văn hóa ở An Giang và du lịch biển đảo Phú Quốc đã góp phần làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu du lịch, dịch vụ trong vùng. Ngoài ra, du lịch và dịch vụ du lịch ở các địa phương ven biển, biên giới còn gắn với công tác quốc phòng, an ninh trên biển, vùng biên giới. Cơ sở vật chất phục vụ du lịch được chú trọng đầu tư, nâng cấp, đặc biệt tại các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau).

Năm vừa qua, Tạp chí du lịch Anh Rough Guides vừa bình chọn ĐBSCL của Việt Nam vào top 10 điểm đến "giá trị nhất" năm 2015. Tạp chí Rough Guides nhận định 10 điểm đến là những chuyến du lịch tiết kiệm, đáng đồng tiền để trải nghiệm, hòa nhập, khám phá đời sống và nền văn hóa của người dân địa phương. Trong đó, vùng ĐBSCL được Rough Guides ca ngợi là vùng đất trù phú, màu mỡ, có hệ thống kênh rạch chằng chịt, đầy sắc màu cuộc sống và hương vị cuộc đời.Bài viết ví von mô tả "chỉ một túi tiền đồng" và chuẩn bị phương tiện xe máy hoặc thuyền, du khách sẽ tha hồ khám phá chặng đường dài về phong cảnh và cuộc sống người dân miền sông nước Cửu Long. Bên cạnh đó, thiên đường nhiệt đới đảo ngọc Phú Quốc (Kiên Giang) là chặng dừng chân thú vị không thể bỏ qua trong hành trình khám phá các tỉnh miền tây Nam Bộ[4].

 Tuy nhiên, đến nay, du lịch vùng đất này vẫn chưa cất cánh, vẫn là “vùng trũng” của ngành du lịch cả nước. Đây cũng là vấn đề đầy bức xúc, trăn trở của bất kỳ ai còn tâm huyết với du lịch đồng bằng.   

2. Hạn Chế:

 Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, song du lịch vùng ĐBSCL nhiều năm nay phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Thiếu sản phẩm du lịch đặc trưng, sự liên kết vùng dù đã có nhưng hết sức lỏng lẻo. Thực trạng phát triển của du lịch ĐBSCL không có gì thay đổi nhiều trong suốt thời gian từ năm 2006 đến nay. Tại ĐBSCL, thế mạnh là loại hình du lịch sinh thái gắn với sông nước miệt vườn được xem là loại hình du lịch đặc thù, chủ lực trong phát triển sản phẩm du lịch vùng. Tuy nhiên, các tour du lịch sinh thái ở ĐBSCL vẫn chưa là điểm thu hút khách mạnh so với các điểm khác trong nước. Tour về miền Tây chiếm chưa tới 10% so với tổng tour nội địa. Lượng khách nội địa chọn tour về ĐBSCL ngày càng sụt giảm nghiêm trọng.

Hơn mười năm qua, du lịch sông nước ĐBSCL đang dần trở thành điểm đến nhàm chán bởi các công ty du lịch chỉ tập trung khai thác những gì có sẵn từ thiên nhiên để lấy... tiền, và hầu như không tái đầu tư để phát triển những sản phẩm du lịch độc đáo nhằm thu hút khách. Ai cũng nhận thấy liên kết hợp tác sẽ tạo ra sản phẩm mới, sức mạnh mới, đa dạng, hấp dẫn hơn, kéo dài số ngày lưu trú của khách... Việc liên kết được kêu gọi cả chục năm nay, trong hàng chục hội nghị hội thảo đa cấp đa ngành lớn nhỏ nhưng đến nay vẫn dừng lại ở mức kêu gọi.

Thống kê những năm gần đây cho thấy, lượng du khách quốc tế đến ĐBSCL chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ và tập trung chủ yếu tại các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, TP Cần Thơ… Thời gian lưu trú và chi tiêu của khách tại vùng này cũng thấp hơn mặt bằng chung. Mấy năm gần đây, các tỉnh thành ĐBSCL rộ lên phong trào bắt tay nhau liên kết hợp tác du lịch. Tuy nhiên, việc liên kết và hợp tác thời gian qua chỉ mới mang lại cho du lịch ĐBSCL một số kết quả nhất định trên các lĩnh vực như trao đổi thông tin, trao đổi kinh nghiệm quản lý nhà nước, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá... Vấn đề liên kết hợp tác phát triển du lịch trong nội vùng còn thấp, vẫn mang nặng tư tưởng “sứ quân”, “không ai hơn ai” dẫn đến bất hợp tác vẫn âm ỉ giữa các đơn vị du lịch trong vùng; thậm chí có nơi có lúc còn cạnh tranh hạ giá tour, giành giật khách...

Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến việc du lịch ĐBSCL phát triển chưa tương xứng với tiềm năng như: ĐBSCL chỉ mới phát triển du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, du lịch văn hóa - lễ hội, vừa thiếu hấp dẫn vừa chưa có các thương hiệu sản phẩm du lịch đặc thù. Quan trọng hơn, sản phẩm du lịch lại trùng lắp giữa các địa phương do thiếu sự liên kết, hợp tác mang tính liên vùng. Nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch; nguồn nhân lực vừa thiếu vừa yếu, đội ngũ làm công tác quản lý du lịch còn mỏng… Tuy nhiên, nguyên nhân lớn nhất là thiếu một “nhạc trưởng” dẫn dắt, khiến cho việc liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương trong vùng mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc và hình thức, không phát huy hiệu quả.

Để ngày càng phát huy hơn nữa những thành tựu và lợi thế sẵn có, đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì Nhà nước, chính quyền địa phương, ngành du lịch vùng ĐBSCL cần đề ra những mục tiêu phát triển rõ ràng và có những giải pháp thiết thực hơn nữa trong những năm tiếp theo 2015- 2020.

3. Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu

Thứ nhất, về khách du lịch: Năm 2015 đạt 2,7 triệu lượt khách quốc tế và 5,2 triệu lượt khách nội địa. Năm 2020 đạt 3,9 triệu lượt khách quốc tế và 6,5 triệu lượt khách nội địa.

Thứ hai, về  cơ sở lưu trú du lịch: Năm 2015 có tổng số 37.150 buồng khách sạn. Năm 2020 có 50.000 buồng khách sạn.

Thứ ba, về nguồn nhân lực du lịch: Năm 2015 có 154.700 lao động trong lĩnh vực du lịch, trong đó có 54.100 lao động trực tiếp. Năm 2020 có 236.600 lao động trong lĩnh vực du lịch, trong đó có 82.700 lao động trực tiếp.

Thứ tư, về thu nhập du lịch, giá trị GDP du lịch và nhu cầu đầu tư: Năm 2015 thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch đạt 723,1 triệu USD, giá trị GDP du lịch đạt 491,6 triệu USD. Năm 2020 thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch đạt 1.349,5 triệu USD, giá trị GDP du lịch đạt 877,1 triệu USD. Nhu cầu đầu tư cho du lịch giai đoạn từ nay đến 2015 là 959,6 triệu USD. Nhu cầu đầu tư cho du lịch giai đoạn 2016-2020 là 963,7 triệu USD[5].

 4. Các giải pháp:

Một là, Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương. Nâng cao năng lực cán bộ quản lý du lịch. Chú trọng phát triển hệ thống các cơ sở dạy nghề.  

Hai là, Chính sách về thuế và tài chính: Xây dựng những cơ chế, chính sách ­đặc thù về việc ưu đãi thuế. Ưu tiên, miễn giảm thuế, cho chậm tiền thuế có thời hạn, giảm tiền thuế đất, cho vay với lãi suất ­ưu đãi đối với các dự án đầu tư­ phát triển du lịch ở các vùng đất còn hoang sơ, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, các điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Đề xuất các ưu đãi cụ thể về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng với các doanh nghiệp du lịch.

Ba là, Giải pháp về quy hoạch: Các địa phương rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với định hướng phát triển chung của cả vùng nhằm đảm bảo hiệu quả và năng lực cạnh tranh du lịch. Xây dựng quy hoạch chi tiết các trọng điểm du lịch làm cơ sở kêu gọi vốn đầu tư.

Bốn là, Giải pháp về tổ chức quản lý: Nâng cao vai trò quản lý của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương. Phối hợp tốt với các hiệp hội du lịch các địa phương và Hiệp hội du lịch đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường công tác quản lý phát triển theo quy hoạch. Chú trọng công tác thống kê và xây dựng hệ thống thông tin quản lý du lịch.

Năm là, Giải pháp về đầu tư: Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung đầu tư các khu du lịch quốc gia làm điểm đột phá thúc đẩy phát triển du lịch cả Vùng kết hợp phát triển các sản phẩm đặc thù, có chất lượng cao của từng địa phương, từng vùng, miền. Đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất du lịch. Đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch. Tập trung nguồn vốn ngân sách cho các dự án phát triển hạ tầng. Kêu gọi các hình thức đầu tư cả trong và ngoài nước, khuyến khích người dân tự đầu tư khai thác phát triển du lịch.

Sáu là, Giải pháp thị trường, xúc tiến quảng bá: Điều tra đánh giá thị trường, từ đó xây dựng chiến lược thị trường - sản phẩm, xác định các thị trường ưu tiên cho từng giai đoạn. Xây dựng hệ thống điều tra phỏng vấn, thu thập thông tin phản hồi từ khách và các doanh nghiệp lữ hành làm cơ sở cho việc điều chỉnh hoạt động đầu tư khai thác, kinh doanh du lịch. Tổ chức các hoạt động đánh giá hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến. Sử dụng, khai thác mọi hình thức hiệu quả quảng bá xúc tiến du lịch đồng bằng sông Cửu Long tiến tới xây dựng hình ảnh du lịch đồng bằng sông Cửu Long thống nhất, hấp dẫn.

Bảy là, Giải pháp hợp tác phát triển: Tăng cường hợp tác phát triển giữa các địa phương trong vùng nhằm khai thác phát huy lợi thế của từng địa phương, tăng cường khả năng cạnh tranh chung của cả vùng. Phát huy vai trò của Hiệp hội du lịch đồng bằng sông Cửu Long trong điều phối đầu tư, khai thác, kinh doanh du lịch cũng như đào tạo phát triển nguồn nhân lực và quảng bá, xúc tiến du lịch. Kết hợp chặt chẽ du lịch đồng bằng sông Cửu Long với du lịch thành phố Hồ Chí Minh và Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Tăng cường hợp tác phát triển với các quốc gia trong Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, đặc biệt là với Campuchia.

Tám là, Nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ: Tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển du lịch. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, kinh doanh và quảng bá, xúc tiến du lịch. Tăng cường nghiên cứu, áp dụng các công nghệ phục vụ cải thiện môi trường, thân thiện với môi trường. Học tập và áp dụng các công nghệ quản lý tiên tiến trong phát triển du lịch.

Bên cạnh các giải pháp nêu trên, thiết nghĩ để có thể đẩy mạnh và phát triển ngành công nghiệp không khói của vùng ĐBSCL trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần phải huy động được những nguồn lực tổng hợp từ tất cả các ban ngành liên quan. Trong đó cần hết sức lưu ý đến việc phát huy được những thế mạnh cũng như các thành tựu đã đạt được; đồng thời nhanh chóng khắc phục những khó khăn - yếu kém và hạn chế (như đã phân tích trên đây) để có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển toàn bộ nền kinh tế - xã hội của vùng và góp phần xây dựng du lịch thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của ĐBSCL./

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Báo cáo: “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2010”, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ .

2.    Đoàn Nô, Du lịch lễ hội vùng đất Tây Nam Bộ, Nxb, CTQG- ST, HN,2014.

3.     Trang web:

http://canthotv.vn/tin-tuc/dong-bang-song-cuu-long-lien-ket-san-pham-du-lich-de-tao-nen-tour-du-lich-dac-thu/

http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/15413

http://mdta.com.vn/News.aspx?page=NewsDetails&NewsID=3971&CatID=TINTUC.

http://mdec.vn/com_content/articles/lien-ket-vung-trong-du-lich/643.htm

http://mdec.vn/com_content/articles/Tong-quan-vung-DBSCL/803.htm

http://www.mekonglife.vn/#1407

http://www.thesaigontimes.vn/112503/DBSCL-can-lien-ket-de-phat-trien-du-lich.html

http://bvhttdl.gov.vn/vn/vb-qly-nn/2/331/index.html                                                                                                                                                                                             

 



[1] Báo cáo: “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2010”, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ .

[2] Nguồn: “Đồng bằng sông Cửu Long: Liên kết sản phẩm du lịch để tạo nên tour du lịch đặc thù” (Theo dangcongsan)     http://canthotv.vn/tin-tuc/dong-bang-song-cuu-long-lien-ket-san-pham-du-lich-de-tao-nen-tour-du-lich-dac-thu/

[3] Nguồn: “Để phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long” Hồng Dương

www.toquoc.vn http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/15413

[4] Nguồn: “Đồng bằng sông Cửu Long vào top 10 điểm đến "giá trị nhất", Theo Zing News http://mdta.com.vn/News.aspx?page=NewsDetails&NewsID=3971&CatID=TINTUC. 

[5] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quyết định “Về việc phê duyệt “Đề án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Longđến năm 2020

http://bvhttdl.gov.vn/vn/vb-qly-nn/2/331/index.html